Phương pháp kiểm toán và cách phân loại chi tiết nhất

794

Phương pháp kiểm toán cơ bản là phương pháp thu thập những bằng chứng, thông tin liên quan đến số liệu do hệ thống kế toán cung cấp cũng như quản lí. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp đầy đủ, chi tiết nhất về phương pháp kiểm toán là gì, có những loại phương pháp kiểm toán nào.

1. Phương pháp kiểm toán là gì?

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330, phương pháp kiểm toán cơ bản hay còn gọi là thử nghiệm cơ bản được định nghĩa: “Là thủ tục kiểm toán được thiết kế nhằm phát hiện các sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu”. Mọi phân tích, đánh giá của ứng viên sẽ đều phải dựa vào thông tin, số liệu trong báo cáo cũng như hệ thống kế toán cung cấp. Phân loại phương pháp thử nghiệm cơ bản gồm phương pháp thử nghiệm chi tiết nghiệp vụ cùng phương pháp phân tích đánh giá tổng quát.

2. Các phương pháp kiểm toán

2.1. Phân tích đánh giá tổng quát

Phân tích đánh giá tổng quát là việc thông qua mối quan hệ, tỉ lệ giữa các số liệu trên báo cáo tài chính để xem xét báo cáo tài chính. Có 2 phương pháp là phân tích tỷ suất và phân tích xu hướng. Phân tích đánh giá tổng quát sẽ giúp kiểm toán viên có thể nhanh chóng khai thác bằng chứng thông qua việc xác định thông tin sai lệch hay báo cáo tài chính có những bất thường nào. Qua đó, kiểm toán viên có thể xác định được mục tiêu, quy mô, khối lượng, phạm vi của công việc kiểm toán cần làm. Đây cũng là bước đầu để kiểm toán viên có thể đi sâu hơn vào nghiên cứu, kiểm toán những vấn đề cần thiết. Các loại phân tích đánh giá tổng quát như:

Phương pháp kiểm toán cơ bản nhằm phát hiện sai sót ở cấp độ cơ sở dẫn liệu.
  • Phân tích xu hướng: Đây là phương pháp có thể so sánh về lượng trên cùng 1 chỉ tiêu. Kiểm toán viên có thể dựa vào kỹ thuật này để thấy được những biến động trên cùng 1 chỉ tiêu để qua đó định hướng nội dung kiểm toán hay xác định cần đi sâu vào vấn đề nào.
  • Phân tích tỷ suất: Phương pháp này so sánh, đánh giá bằng cách dựa vào tỉ lệ tương qua giữa khoản mục, chỉ tiêu. Kế toán viên có thể phân tích một số hoặc tất cả nhóm tỷ suất tùy thuộc vào từng doanh nghiệp, phạm vi tiền bậc, thời gian cũng như trình độ chuyên môn. Những món tỉ suất có thể phân tích như:
  • Tỷ suất khả năng sinh lời.
  • Tỷ suất khả năng thanh toán
  • Tỷ suất về cấu trúc tài chính.

2.2. Thử nghiệm chi tiết các nghiệp vụ và số dư tài khoản

Là kĩ thuật kiểm tra chi tiết quá trình ghi chép, thanh toán từng nghiệp vụ kinh tế từ chứng từ vào sổ sách kế toán có liên quan, kiểm tra tính toán, tổng hợp số dư từng tài khoản. Đây là phương pháp kiểm toán ra đời sớm nhất, mất nhiều công sức, thời gian, chi phí, nhưng lại mang lại bằng chứng kiểm toán có giá trị và sức thuyết phục cao nhất.Thích hợp để thực hiện tại các lĩnh vực như tiền mặt, ngoại tệ, đá quý.

3. Đối tượng của kiểm toán

Dựa vào thực tế cũng như các quy định có thể thấy đối tượng kiểm toán gồm nhiều vấn đề cần được kiểm toán mà đầu tiên và thủ yếu nhất đó chính là thực trạng hoạt động tài chính trong đơn vị. Như vậy, đối tượng kiểm toán đầu tiên đó chính là tài liệu kiểm toán vì đây là đối tượng mà các nhà quản lý cũng như những người khác luôn quan tâm. Các tài liệu kế toán sẽ gồm: Bảng kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, chứng từ kế toán, sổ sách…

Với mọi người quan tâm, nếu không gắn với thực trạng của doanh nghiệp thì con số cũng như tài liệu kế toán không có ý nghĩa. Điều này là do tính phức tạp của quan hệ tài chính cũng như giới hạn về phương tiện xử lý thông tin, giới hạn trình độ nên không thể thu nhập được tất cả thông tin tài chính. Vì vậy, kiểm toán ngoài giới hạn đối tượng còn bao gồm cả hoạt động tài chính dù đã hay chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán. Ngoài ra, để phù hợp với sự phát triển của nhu cầu quản lý cũng như sự phát triển của kế toán, kiểm toán còn quan tâm tới nhiều lĩnh vực khác như hiệu năng chương trình, hiệu quả sử dụng nguồn lực, mục tiêu của từng dự án cụ thể… Các đối tượng chính của kiểm toán có thể kể đến như:

3.1. Đối tượng chung của kiểm toán – thực trạng hoạt động tài chính

Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết những mối quan hệ trong kinh doanh, đầu tư, phân phối hay thanh toán với mục đích đạt lợi ích kinh tế xác định. Các mối quan hệ tài chính ở đây là tiền c

Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế xác định. Ở đây, các mối quan hệ tài chính là nội dung bên trong của hoạt động tài chính và tiền chỉ là hình thức biểu hiện, là phương tiện để giải quyết các mối quan hệ kinh tế đó.

Có nhiều phương pháp kiểm toán khác nhau.

3.2. Tài liệu kế toán – đối tượng cụ thể của kiểm toán

Tài liệu kế toán là hệ thống các chứng từ, sổ sách, các bảng biểu và báo cáo tài chính kế toán. Theo Luật kế toán: Tài liệu kế toán là chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, báo cáo kiểm toán, báo cáo kiểm tra kế toán và các tài liệu khác có liên quan đến kế toán.

3.3. Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính – đối tượng cụ thể của kiểm toán

  • Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản dược biểu hiện dưới nhiều hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về qui cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng… khác nhau, lại được lưu trữ trên nhiều kho, bãi khác nhau với những người quản lí khác nhau.

Mối liên hệ giữa những người quản lí với nhau cũng như giữa người quản lí với người sở hữu tài sản được thực hiện theo những xu hướng và phương thức khác nhau song có xu hướng ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa người sở hữu với người bảo quản và sử dụng tài sản. Mặt khác, khi sản xuất phát triển, qui mô tài sản cũng tăng lên, qui mô kinh doanh mở rộng, các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp… dẫn đến khả năng cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán…

Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán.

  • Tài sản trong kinh doanh có dạng vật chất và nguồn hình thành đa dạng, chúng luôn vận động và được thể hiện bởi các nghiệp vụ cụ thể. Dựa trên quá trình vận động này, đặc tính riêng của từng loại tài sản, mối quan hệ kinh tế của mỗi loại và sự đa dạng của các nghiệp vụ nên kiểm toán được chia thành các phần hành kiểm toán cụ thể phù hợp với đối tượng của mình.

Qua bài viết này, anh/chị đã phần nào có cái nhìn tổng quát nhất về phương pháp kiểm toán trên thực tế. Thông qua phương pháp này, anh/chị có thể ứng dụng để kiểm toán dễ dàng, thuận lợi hơn. 

MISA ASP là nền tảng kết nối giữa doanh nghiệp và kế toán dịch vụ. Thông qua nền tảng, anh/chị kế toán dịch vụ có thể tìm kiếm thêm nhiều khách hàng mới, gia tăng thu nhập. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể tìm được đối tác phù hợp với mức phí vừa phải. Truy cập ngay MISA ASP để được trải nghiệm nền tảng: